Y THI
Ô LÂU- GIỌT MÁU, LỜI YÊU...
BÚT KÝ
Giờ đây, khi rời những con
sông hiền hòa trong vắt ở phía Bắc Quảng Trị để vào đất thành kinh thơ mộng,
chúng ta sẽ bắt gặp con sông cuối cùng ở phía Nam, dòng sông Ô Lâu nằm ở ranh
giới hai tỉnh.
Ô Lâu, nghe gợi đấy chứ
nhỉ? Với tôi không hiểu sao cái thanh âm Chiêm Thành cổ kính kia nó không chỉ
gợi mà xao xuyến đến chạnh lòng. Trầm tích vùng đất phên dậu một thời Châu Ô,
Châu Rí đó chăng? Xưa trong những huyền tích bà kể, nghe đâu cứ ba mơi năm một
lần biển xanh hóa thành ruộng dâu, dân gian gọi bể dâu. Ba mươi năm một lần... thế mà thời tôi đang
sống đây, cái gọi là bể dâu nó biến hoá muôn hình vạn trạng trong mỗi phận đời,
phận người gắn kết với bao danh phận dòng sông biết mấy lở bồi qua cùng năm
tháng. Cũng như những con sông lừng danh khác ở Quảng Trị trong lịch sử dựng nước
và giữ nước như Hiền Lương, Thạch Hãn,... Ô Lâu mang vác một danh phận có
thể nói là dằng
dặc đời sông, sóng chìm sóng nổi. Đất nước bao đời gươm giáo chiến tranh nên còn vang vọng đâu đây trên
những khúc sông cả giọt máu, lời yêu, bến nước, trăng thề và cả câu
hò, điệu lý...
***
Ngày
nay chúng ta vượt qua sông Ô Lâu nhờ một chiếc cầu, khác với ngày xưa khách
bộ hành trên đường thiên lý qua sông bằng chiếc thuyền nan. Cứ mỗi lần qua cầu Mỹ Chánh như thế, tâm trí tôi lại
cuồng điên lên vì nhớ đến người anh khả kính thuở thiếu thời, nhớ cả hoa thơm
cỏ dại dọc con sông này. Anh tên là Sơn Hồng Đức, sinh ra và lớn lên ở chợ Mỹ
Chánh, bên bờ Nam
sông Ô Lâu. Còn nhớ sau tết Mậu Thân 1968, từ thượng nguồn đến hạ lưu con
sông này đâu đâu cũng có thể cho là “mất an ninh” vì phía cách mạng nắm quyền
kiểm soát. Là nhà địa chất chuyên ngành thủy học dạy ở trường Đại học hẳn hoi,
vậy mà trông anh chẳng ra dáng một vị giáo sư hay một nhà khoa học gì cả. Sơn
Hồng Đức chỉ là một con người khắc kỷ trong công việc, ngược lại rất đãng trí
và phóng khoáng trong giao du. Giữa chốn trần ai, mọi nơi mọi lúc gần như anh
chỉ là vị khách lãng du. Có thế mà vui, vì bấy giờ từ những chuyến đi từ thành
Huế ra thị xã Quảng Trị, hễ có dịp ghé lại nhà bên chợ Mỹ Chánh là anh rủ rê
chúng tôi du thuyền trên sông Ô Lâu, bất kể ở khúc sông nào, đang thuộc quyền
ai kiểm soát. Cảm giác anh như người hùng, ít ra cũng là người nằm trong “tổ
chức” cách mạng. Có bấy nhiêu thôi mà nhớ mãi, vì bấy giờ dòng sông này chứng
kiến biết bao nhiêu lần sự hội ngộ và tri âm của hai kẻ phù phiếm trên đời là
anh Đức và tôi, một thanh niên và một thiếu niên đi tìm lý tưởng. Và cũng chỉ
có thế thôi, để bây giờ chắp nối lại những chuyến đi như những kẻ mộng du ấy,
tôi mới có một chút khái niệm mơ hồ về bản lai diện mục con sông Ô Lâu - giọt
máu - lời yêu trữ tình thơ mộng này.
Một hôm
xem phim ở rạp Hoàn Mỹ về, buồn bã quá, anh Đức rủ tôi ra quê leo núi, thực
hiện một cuộc khảo sát khám phá chinh phục những ngọn núi, nơi phát tích ra
dòng Ô Lâu. Đêm ấy ở nhà tự tay anh hì hục nấu nướng. Xôi đùm, thịt kho, bánh
trái nhồi nhét đầy một ba lô và túi xách kia tài liệu, bản đồ, lều bạt, sách
truyện. Sáng ra hóa trang thế nào cũng không thành hai kẻ sơn tràng để leo núi.
Thì cũng là hai kẻ mộng du thôi, làm thế nào leo lên đợc ngọn nguồn nơi phát
tích ra dòng Ô Lâu? Ngồi xổm ở lưng chừng núi, trải tấm bản đồ thời thuộc Pháp
ra, anh chỉ trỏ giải thích. Ngọn nguồn Ô Lâu là một con sông của quần sơn
Kovaladut, nhòm lên chỉ thấy rừng dày nhưng núi thì không cao lắm. Độ cao ghi
chú trong bản đồ chừng sáu trăm mét trong khi Thạch Hãn cao gần gấp đôi. Ở đó
tứ bề có nhiều con sông đổ về như Rào Trang chảy hướng Tây Bắc; trong khi khe
Toan, khe Ba Lá, La Sam, Đakrông đổ nước về phía biên giới Việt Lào. Lưu vực
sông Ô Lâu cũng không rộng lắm, chừng sáu trăm cây số vuông trong khi Thạch Hãn
rộng gấp ba lần. Vì vậy ngay ở đầu nguồn, dòng sông Ô Lâu thong thả chảy giữa
đồi 652 và đồi Coc-bai, thẳng hướng Tây Bắc. Đứng ở khúc sông này quan sát,
đập vào mắt chúng tôi cảnh tượng một dòng sông nước trắng xóa chảy mải miết
qua ghềnh, qua đá - những tảng đá rêu phong trơ gan cùng tuế nguyệt. Chúng tôi
hạ trại dùng bữa trưa và trong giấc ngủ chập chờn đã nghe vọng lên một âm hưởng
bí ẩn từ đáy dòng sông. Và mây, mây trắng từng mảng dày sà xuống dòng sông để
gió lùa mây lên ngàn thành mây đầu non, từng mảng từng đàn như bầy ngựa hoang,
chon von trên chóp Bạch Mã. Chỉ khi dòng nớc đụng vào sườn đồi 389 thì mới
đổi hướng trực chỉ phương Đông cho đến ngã ba khe Đôộng Chuối. Đôộng Chuối
chính là phụ lưu đầu tiên của sông Ô Lâu về phía tả. Vì bắt đầu từ đây lòng
sông trải rộng, dòng nước trôi lững lờ. May mà anh Đức kịp liên hệ với bác Đóa
là chỗ người quen lái đò dọc trên đoạn sông này, không thì phải có người cáng
võng tôi đi. Ngồi tựa mạn thuyền trôi xuôi theo dòng nhìn lại, những dãy núi
chỉ còn là hình bóng trong xa mờ. Các loài thảo mộc, lau lách hoang dại um tùm
kéo dài ra hai bên bờ sông và ở quãng này phù sa đã bắt đầu lắng tụ thành đồng
bằng chân núi, theo bác Đóa thì dân địa
phương gọi là đất Thấm Phường.
Bác Đóa
cùng anh em tôi kịp dùng bữa tối trước lúc trăng lên. Quả là trăng treo đầu
non, nó chín mọng như quả trứng hồng chúm chím cười nói trong làn sương mỏng.
Tôi trải tấm bạt ra nằm trong khi anh Đức thu xếp đồ đạc gọn vào trong túi ba
lô. Không rõ hào hứng hay thoải mái cái nỗi gì, tôi gõ tay xuống sạp thuyền ca
bài ca trong nhạc phim “Mùa thu lá bay” đang chiếu rất thịnh hành ở nhiều rạp
phim trong Huế: Mùa
thu lá bay em đã đi rồ/Thế gian ơi giấc mộng vỡ đôi/Lạy trời đợc yêu mãi nhau
ngời ơi / Đừng mang trái ngang chia lìa đớn đau...
Đang gấp lại tấm bản đồ nhét bên mạn thuyền, bất giác anh Đức quay sang tôi gây gỗ:
Đang gấp lại tấm bản đồ nhét bên mạn thuyền, bất giác anh Đức quay sang tôi gây gỗ:
- Này
Th., răng ta thấy chú mi thích toàn chuyện nhảm nhí. Toàn là phim Tàu, chưởng
Hồng Kông, Đài Loan và cả phim tình ái Mỹ nữa, thứ chi chú mi cũng nhồi nhét vô
trong đầu. Ra khỏi mấy rạp phim lại gối lên đầu toàn những thứ truyện tào lao
nữa chơ... Rặt một thứ Kim Dung, Anh hùng xạ điệu, rồi đây không biết làm nổi
cái trò trống gì. Răng không thấy chú mi học hành môn sử nước Việt?...
Tôi
buột miệng chống chế:
- Thì
cụ S. sử địa khó tính nhất ở Huế đã phê giỏi hai môn trong học bạ tui rồi, anh
còn đòi thêm chi cho cao.
Anh Đức
phẩy tay:
- Nỏ
thấm bổ vô mô, học ra rứa là học vẹt hết!
Tôi
vùng ngồi dậy, hai tay bó gối, quay sang hỏi vặn:
- Rứa
thì dạ thưa ông giáo sư, nhân chuyến đi chinh phục quần sơn Kovaladut thất
bại thê thảm này, giáo sư giải thích cho em hai chữ Tổ quốc?
Như gãi
trúng chỗ ngứa, anh Đức hào hứng:
- Tổ
quốc ấy à, để xem. Tổ quốc là lịch sử, là núi sông, làng mạc, đồng bào, không
phải là cái gì trừu tượng cả. Tổ quốc nó cụ thể trên tấm bản đồ chúng ta mang
theo đây chẳng hạn. Có điều chán chú mi quá, lên được lưng chừng núi rồi mà
không có sức để leo. Bảo rằng yêu sông, yêu suối cũng chỉ yêu mỗi những khúc
sông nước trôi lững lờ, lại còn vòi vĩnh cho được cả thuyền trôi xuôi theo dòng
nữa chớ! Chao ôi là Tổ quốc, cứ sinh ra những đấng nam nhi như chú mi đợi “ngồi
mát ăn bát vàng” thì còn chi là thời cuộc phải vậy không bác Đóa?
Bác Đóa
đập vào đùi cái đét rồi còn buột miệng tán thưởng rằng“chí phải" !!!. Tôi
đỏ mặt vì hơi bị quê, định tiếp tục chống chế thì anh Đức đã cắt ngang:
- Còn
nữa, hồn Tổ quốc tuy có phần trừu tượng nhưng nó ẩn chứa trong tâm thức mọi
ngời, đồng hóa với lương tâm mỗi con ngời. Phải vậy không bác Đóa?
Bác Đóa
gật gù, ra chiều nghĩ ngợi lắm. Cái thời giáp ranh Nam Bắc hai miền, ở Huế tôi
thường xuyên được những vị giáo sư gàn dạy cho những bài học lịch sử “bổ
báng” như thế, vậy mà nhớ mãi. Đêm ấy, anh Đức còn cao hứng đàm đạo cả chuyện
triết học khi tôi đặt ra cho anh câu hỏi:
-Vậy
thì lịch sử cụ thể là gì?
Anh đã
giải thích tương đối cụ thể. Đại ý là lịch sử của mỗi vùng đất, của mỗi quốc
gia dân tộc, của cả nhân loại tờ tợ như mỗi dòng sông. Nó không đơn thuần là
con đường phẳng phiu thẳng tắp đi tới cái đích tương lai. Con đường nhân loại
từng đi qua và rồi sẽ đi cũng giống như những dòng sông. Nghĩa là phải vắt qua
núi non, đèo cao dốc đứng và cả vực sâu thăm thẳm kia rồi mới hát khúc bình yên
cùng bờ bãi. Và rồi anh dẫn độ cả ông C. Mác vào dòng sông. Tôi nhớ đại ý Mác
nói là những đèo cao, vực sâu kia thờng ứng vào những cái mốc lịch sử, vào các
thời kỳ cách mạng vì chính nhân loại đã thực hiện những cuộc đi lên cao nhất
vào các thời điểm ấy. Bằng chứng là ông đã ca ngợi các chiến sĩ công xã Pari
bằng một câu nói hết sức giản dị rằng “Họ đã chinh phục bầu trời”...
Ở trường
tôi có học sơ lược về cuộc cách mạng tư sản Pháp, biết được đôi điều về các
chiến sĩ công xã Pari mà ông Mác vừa ca ngợi. Thế nhưng khi hỏi anh Đức cụ thể
về ông Mác bên trời Âu phe xã hội chủ nghĩa và đặc biệt gần gũi là cụ Hồ Chí
Minh ngoài Bắc thì người đưa đò dọc là bác Đóa ra lệnh im, đò đang qua vực,
ngoặt hướng nguy hiểm. Tôi ngầm hiểu ý và hơi thất vọng nhưng rồi anh Đức đã
kịp động viên. Trên dòng sông trăng anh hát cho tôi nghe nào là “Lời người
ra đi” nào là “Sơn nữ ca”: Sơn nữ
ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ
ơi!... Và rồi khi tôi tò mò hỏi về người
nhạc sĩ cách mạng là ông Trần Hoàn, cũng nhận được câu ra lệnh im của bác Đóa
lái đò. Tôi hỏi nhỏ bác ấy là ai, làm nghề gì. Anh Đức gọi là “Phá sơn lâm”,
tức làm nghề rừng. Đã từng qua cao nguyên, tôi biết nơi ấy nâng tâm hồn con người
lên ở một cái tầm cao rộng, thoáng đãng. Còn như cái nghề của bác Đóa hẳn
nhiên là có ảnh hưởng đến tính khí, tiết tháo của bác ấy rồi. Những ai đánh
bạn với bác chỉ một lần đã là hạnh ngộ trong đời. Bởi đó là con người yêu tự
do, ghét bất công nên đã rất khẳng khái và kiên quyết trong từng cử chỉ tưởng
là nhỏ nhặt...
Yêu biết mấy con người và sông núi thượng
nguồn Ô Lâu nhưng bấy giờ linh cảm cho tôi biết khó mà thực hiện lại được một
lần thứ hai như thế nữa!
***
Hình
như có sự sắp đặt đâu đó từ trước. Đến làng Mỹ Xuyên thì trời vừa sáng, bác
Đóa cho thuyền ghé bến vui vẻ bàn giao anh em chúng tôi lại cho vị khách quen
không ai khác là anh On chạy xe ôm đèo chúng tôi lên núi ngày hôm trước.
Anh Đức
cắt đặt, dặn dò anh On chở tôi đi thăm tháp hạ lưu dòng sông một mình, còn thì
anh ở lại vì còn một công việc chuyên môn quan trọng là đo độ mặn nước sông.
Từ đây anh On cắt dọc cắt ngang, chở tôi đến những nơi cần đến, gần như theo
chỉ dẫn của tấm bản đồ. Cái nơi mà bác Đóa gọi là “qua chỗ ngoặt nguy hiểm” kia
chính là nơi dòng Ô Lâu tiếp nhận nước sông Cao Ban để đổi hướng, chảy theo hướng
Bắc Đông qua các điểm dân cư như Mỹ Xuyên vừa nói, rồi qua Phú Ninh thuộc
huyện Phong Điền. Sông ra đến cánh đồng Vân Trình nước mất đi rất nhiều vì
trầm thổ qua những đụn cát nóng bỏng. Sông lại vạch hướng, tạo dòng chảy rất khó
khăn giữa sa mạc cát và các vật liệu trầm tích. Nhờ sự tiếp tế nước của sông
Câu Nhi và rào Thác Ma (tức sông Mỹ Chánh xuất phát từ núi Đá Bàn) Ô Lâu vượt
ranh giới hai tỉnh để rồi chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy qua các ngôi làng
trù mật như Câu Nhi, Văn Quỹ, Hương Nhơn, An Thơ, Phú Kinh ra cầu Vân Trình;
trong khi ở cầu Phước Tích sông chia nước cho dòng Ô Giang chảy vòng qua Văn
Trị, Càng Cây Da để rồi tụ lại ở cầu Vân Trình. Nhánh sông này hòa vào hệ thống
kênh rạch đổ ra sông Thạch Hãn. Nhánh khác, băng qua sa mạc Vân Trình, đổ nước
ra phá Tam Giang.
Điều
rất dễ hiểu là sau một ngày cưỡi ngựa xem hoa (mà quả là chiếc xe hon da 67
của anh On là con ngựa chiến thật) như thế, tôi không khỏi thắc mắc ông anh là
giáo sư Đức. Anh ném cho tôi bộ tiểu thuyết “Những kẻ khốn nạn”(bản dịch cũ ở miền Nam) bảo đọc
đi rồi biết công xã, biết Mác, biết chủ nghĩa xã hội; Còn anh thì hình như tiếp
tục đi đo độ mặn ở phía cuối nguồn. Một ngày đêm tôi mới đọc xong bộ sách cũng
là lúc anh Đức ta phờ phạc lê bước chân về nhà. Đúng là có sự cố tinh thần gì
ghê gớm đối với anh ấy rồi. Nhưng tôi còn ấm ức mãi về chuyện ông Mác. Anh Đức
miễn cưỡng giải thích:
- Mác
cũng giống như ông Giăng Van Giăng trong“Những kẻ khốn nạn”, họ đều là những người vô sản.
Xưa nay các bậc vĩ nhân đều hiểu tài sản một cách giống nhau. Chú mi thấy Phật
Thích Ca, chúa Giê Su có chút tài sản nào riêng ngoài tấm áo choàng? Toàn bộ
tài sản của thánh Giăng-đi chẳng là cái gì khác ngoài tấm vải che thân, song
không thể hình dung được những nhân cách nào tự do hơn nữa. Chú mi cứ hiểu Mác
là con ngời chống lại chế độ tư hữu quyết liệt vì nó không phù hợp với sự
giải phóng tinh thần loài người.Tôi cố hình dung ra ông Mác qua nhân vật Giăng
Van Giăng nhưng mối liên hệ mỏng manh như tơ nhện và mềm mại như giọt sương
thế thì chịu, không hình dung ra nổi.
Không
rõ cái tư duy triết học con cóc trong đầu tôi nó nhảy thế nào mà buột miệng
hỏi anh Đức về lợi ích kinh tế cụ thể của dòng sông. Anh ném cho tôi cuốn sổ
tay ghi chép chi chít chữ rồi ra cửa lao đi như cánh chim chiều phiêu bạt
thời gian. Hình nh anh có một cô “Sơn nữ ca” nào ở quanh
đây thì phải.
Điều
rất dễ nhận thấy về lợi ích kinh tế của dòng Ô Lâu bởi trước hết nó là tác
nhân chính tạo ra vùng đồng bằng, vựa lúa của hai huyện Hải Lăng và Phong Điền.
Thước đo đặt ở cầu Phước Tích cách quốc lộ một chừng hai cây số cho thấy, mực
nước và lưu lượng cao nhất vào tháng mời. Độ mặn cao nhất vào tháng ba,
tháng đầu mùa nắng gắt. Mỗi năm Ô Lâu tống ra biển chừng năm trăm triệu mét
khối nước, và trong mỗi khối nước có khoảng tám trăm gram phù ra bồi đắp cho
đồng bằng. Một phần hiện nay là chân ruộng cao, phần nữa là đồng thấp nằm ở
phía cửa sông chảy ra phá Tam Giang. Ở đây, nhiều chỗ đất đứng chưa vững chân,
nghĩa là lớp phù sa mới trên mặt chưa kịp cấu kết với lớp dưới. Nhiều năm nước
nổi quá cao làm bật gốc lớp phù sa này. Đất và lúa nổi hẳn lên và trôi ra phá
Tam Giang.
Trước
khi vào Huế, anh Đức có một cử chỉ chiều chuộng như đọc được ý nghĩ trong đầu
đứa em tinh thần. Đó là việc bao một chuyến đò từ cầu Mỹ Chánh ra đến Vân
Trình. Cuộc du thuyền này như là ân huệ cuối cùng, giúp tôi nhận ra những giá
trị văn hóa khác của dòng sông. Có thể nói từ đây, phù sa Ô Lâu tạo ra một miệt
quê thanh bình, mướt xanh màu xanh của cây, của nước. Dòng sông, làng mạc hòa
quyện vào nhau hài hòa, trầm lắng sắc thời gian, giàu tố chất nhân văn. Đó là
những cánh đồng phì nhiêu, địa nhưỡng hài hòa, khí hậu an lành. Thiên thời địa
lợi ấy tất nhiên là có ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách, tâm tính con
người. Nó vừa thảo thơm, nhân hậu, cởi
mở vui tơi, vừa hào sảng, phóng túng. Con ngời sinh ra ở địa cuộc này hẳn
nhiên là khởi phát về văn hóa, giáo dục, lễ nghi. Tất thảy đều là nhân văn, vun
đắp tình người, rồi nó sẽ hiện điềm văn minh. Anh Đức đã chủ động ghé thuyền
vào một trong những ngôi làng hiện điềm ấy rất rõ là làng Câu Nhi. Đây chính là
quê hương Bùi Dục Tài, vị tiến sĩ khai khoa từ năm 1502. Chao ôi là ngôi làng
gần bảy trăm năm, tuổi làng bằng tuổi làn mây cuối trời! Vì thế mà có quá nhiều
tiền hiền, tiền triết, văn nhân, nghệ sĩ. Đứng ở mũi viết đầu đình Câu Nhi, tôi
tự hỏi không biết đây là đất thánh hay mũi viết thần. Đất nước hiện ra trong
tầm mắt với một kích thước hoành tráng khác thường. Đứng ở cái “bao lơn” này
cho ta một tầm nhìn khoáng đãng, dàn trải trước mắt vòng cung sông tha hồ để tư
duy và mơ mộng. Như có vị hương thành thế làng thế đất... Lại một lần nữa, vị
giáo sư kia cắt ngang luồng suy nghĩ của tôi:
- Sao
chúng ta không xây dựng một cái gì ở đây? Một vườn hoa, tượng đài hay tấm bia
tiến sĩ Bùi Dục Tài chẳng hạn ?..
Tôi trả
lời anh Đức theo kiểu triết học con cóc:
- Hoa thì được vì hoa gieo lời
vào Đất. Còn Nước, nước thì thôi...
- Sao
Nước thì thôi ?...Chú mi nghĩ về Đất - Nước thế à ?...Tôi khoát vòng tay như
chỉ :
- Thì nước
đang trả ý về nguồn kia kìa , đâu có ngược lên non được nữa !..
Anh em chúng tôi cười ha hả, quên cả chiều hạ đang tía vàng chuyển sang
mầu tím biếc.
* * *
Trời ạ! Chiến tranh đồng nghĩa với
tao loạn và tất yếu là chia lìa. Đầu năm bảy hai, từ cư xá Nam Giao anh Đức
dẫn độ hai người nữa lên chùa trên núi tìm tôi. Không ai khác đó là bác Đoá
người lái đò dọc đầu nguồn sông Ô Lâu và cô nữ sinh hàng xóm tên Sương, người
thương của anh Đức. Cuộc gặp gỡ trong im ắng, chẳng nói được gì nhiều vì bác
Đoá là người của tổ chức, hở là ra lệnh im. Thông điệp cuối cùng bác Đoá gửi
lại cho tôi là thay mặt anh Đức chăm sóc Sương những ngày vào Huế học trung
học đệ nhị cấp. Còn anh Đức nghe đâu tổ chức đã thu xếp cho anh ra học tận
ngoài Bắc. Huế- Sài gòn- Hà Nội, bao
nhiêu năm nay vẫn còn xa... Huế- Sài
gòn - Hà Nội... tôi đã hát lên thế vì quá sung sướng và bất ngờ nhưng bác
Đoá cũng đã kịp ra lệnh im. Thế rồi mùa
hè đỏ lửa năm ấy, người anh tinh thần của tôi chưa kịp ra Bắc đã anh dũng
hi sinh trong một trận đụng độ với lực lượng Thuỷ quân lục chiến ở đất Thấm phường.
Mẹ anh, người mẹ có chồng tập kết ra Bắc đưa đến cho tôi cái tin não nùng
này. Mẹ khóc tràn trề, no đủ trước mặt tôi. Còn khi gặp Sương thì mẹ chủ động
nuốt nước mắt vào trong; tươi cười, động viên "đứa con dâu hụt"
chăm chỉ học hành. Tôi buộc nhập vai, cháy cả ruột gan, thế mà rồi cô nữ sinh Sương
kia vẫn biết. Trước ngày tôi "lên xanh" một tháng, chị ấy đã có một
hành động tuẩn tiết với người anh tinh thần của tôi là xuống tóc đi tu.
Bà tôi kể ba mươi năm một lần biển
xanh hoá thành ruộng dâu quả là đúng. Để bây giờ đứng ở đâu, dới mầu xanh bất
tận của cây lá, cái mầu xanh nhường như có cả tiếng sóng dòng sông Ô Lâu dìu
dặt trong đó, tôi cứ mơ màng nhớ mấy câu ca dao tình sử: Trăm năm nhiều lỗi hẹn hò/Cây
đa bến cộ con đò khác đưa/Cây đa bến
cộ còn lưa/Con đò đã khác năm xưa
tê rồi !
Man mác một nỗi buồn sông. Không
biết đâu là sự khúc mắc, lỗi hẹn trong lòng cô lái đò hay ni cô Sương? Nỏ biết
răng mô là nỗi niềm bơ vơ trong các câu hò, điệu lý của những lưu dân dọc hai
bờ sông đi mở đất, mở ra cả vựa thóc mà vẫn miên man nỗi buồn xa xứ.
S..Un - xét có nói: "Chẳng có
gì đau đớn hơn sự hoài niệm". Riêng tôi thì không, vì có đau đớn thêm một
lần đi nữa thì tôi cũng đã chép ra đây những kỷ niệm về người anh tinh thần là
một trí thức ở đô thị miền Nam và ni cô Sương, người tình anh tôi, về giọt máu và lời
yêu bên dòng Ô Lâu này.
Y.T.
No comments:
Post a Comment