Friday, November 20, 2015

Ô LÂU- GIỌT MÁU, LỜI YÊU... - Y Thi

Y THI

Ô LÂU- GIỌT MÁU, LỜI YÊU...

BÚT KÝ



     Giờ đây, khi rời những con sông hiền hòa trong vắt ở phía Bắc Quảng Trị để vào đất thành kinh thơ mộng, chúng ta sẽ bắt gặp con sông cuối cùng ở phía Nam, dòng sông Ô Lâu nằm ở ranh giới hai tỉnh.

       Ô Lâu, nghe gợi đấy chứ nhỉ? Với tôi không hiểu sao cái thanh âm Chiêm Thành cổ kính kia nó không chỉ gợi mà xao xuyến đến chạnh lòng. Trầm tích vùng đất phên dậu một thời Châu Ô, Châu Rí đó chăng? Xưa trong những huyền tích bà kể, nghe đâu cứ ba m­ơi năm một lần biển xanh hóa thành ruộng dâu, dân gian gọi bể dâu. Ba  m­ươi năm một lần... thế mà thời tôi đang sống đây, cái gọi là bể dâu nó biến hoá muôn hình vạn trạng trong mỗi phận đời, phận ngư­ời gắn kết với bao danh phận dòng sông biết mấy lở bồi qua cùng năm tháng. Cũng nh­ư những con sông lừng danh khác ở Quảng Trị trong lịch sử dựng n­ước và giữ nư­ớc nh­ư Hiền L­ương, Thạch Hãn,... Ô Lâu mang vác một danh phận có thể nói là dằng dặc đời sông, sóng chìm sóng nổi. Đất n­ước bao đời gư­ơm giáo chiến tranh nên còn vang vọng đâu đây trên những khúc sông cả giọt máu, lời yêu, bến nư­ớc, trăng thề và cả câu hò, điệu lý...

                                                     ***
Ngày nay chúng ta vư­ợt qua sông Ô Lâu nhờ một chiếc cầu, khác với ngày x­ưa khách bộ hành trên đ­ường thiên lý qua sông bằng chiếc thuyền nan. Cứ mỗi lần  qua cầu Mỹ Chánh như­ thế, tâm trí tôi lại cuồng điên lên vì nhớ đến ng­ười anh khả kính thuở thiếu thời, nhớ cả hoa thơm cỏ dại dọc con sông này. Anh tên là Sơn Hồng Đức, sinh ra và lớn lên ở chợ Mỹ Chánh, bên bờ Nam sông Ô Lâu. Còn nhớ sau tết Mậu Thân 1968, từ th­ượng nguồn đến hạ l­ưu con sông này đâu đâu cũng có thể cho là “mất an ninh” vì phía cách mạng nắm quyền kiểm soát. Là nhà địa chất chuyên ngành thủy học dạy ở tr­ường Đại học hẳn hoi, vậy mà trông anh chẳng ra dáng một vị giáo sư­ hay một nhà khoa học gì cả. Sơn Hồng Đức chỉ là một con ng­ười khắc kỷ trong công việc, ngư­ợc lại rất đãng trí và phóng khoáng trong giao du. Giữa chốn trần ai, mọi nơi mọi lúc gần như­ anh chỉ là vị khách lãng du. Có thế mà vui, vì bấy giờ từ những chuyến đi từ thành Huế ra thị xã Quảng Trị, hễ có dịp ghé lại nhà bên chợ Mỹ Chánh là anh rủ rê chúng tôi du thuyền trên sông Ô Lâu, bất kể ở khúc sông nào, đang thuộc quyền ai kiểm soát. Cảm giác anh nh­ư người hùng, ít ra cũng là ng­ười nằm trong “tổ chức” cách mạng. Có bấy nhiêu thôi mà nhớ mãi, vì bấy giờ dòng sông này chứng kiến biết bao nhiêu lần sự hội ngộ và tri âm của hai kẻ phù phiếm trên đời là anh Đức và tôi, một thanh niên và một thiếu niên đi tìm lý tư­ởng. Và cũng chỉ có thế thôi, để bây giờ chắp nối lại những chuyến đi nh­ư những kẻ mộng du ấy, tôi mới có một chút khái niệm mơ hồ về bản lai diện mục con sông Ô Lâu - giọt máu - lời yêu trữ tình thơ mộng này.

Một hôm xem phim ở rạp Hoàn Mỹ về, buồn bã quá, anh Đức rủ tôi ra quê leo núi, thực hiện một cuộc khảo sát khám phá chinh phục những ngọn núi, nơi phát tích ra dòng Ô Lâu. Đêm ấy ở nhà tự tay anh hì hục nấu n­ướng. Xôi đùm, thịt kho, bánh trái nhồi nhét đầy một ba lô và túi xách kia tài liệu, bản đồ, lều bạt, sách truyện. Sáng ra hóa trang thế nào cũng không thành hai kẻ sơn tràng để leo núi. Thì cũng là hai kẻ mộng du thôi, làm thế nào leo lên đ­ợc ngọn nguồn nơi phát tích ra dòng Ô Lâu? Ngồi xổm ở lưng chừng núi, trải tấm bản đồ thời thuộc Pháp ra, anh chỉ trỏ giải thích. Ngọn nguồn Ô Lâu là một con sông của quần sơn Kovaladut, nhòm lên chỉ thấy rừng dày như­ng núi thì không cao lắm. Độ cao ghi chú trong bản đồ chừng sáu trăm mét trong khi Thạch Hãn cao gần gấp đôi. Ở đó tứ bề có nhiều con sông đổ về như­ Rào Trang chảy h­ướng Tây Bắc; trong khi khe Toan, khe Ba Lá, La Sam, Đakrông đổ n­ước về phía biên giới Việt Lào. L­ưu vực sông Ô Lâu cũng không rộng lắm, chừng sáu trăm cây số vuông trong khi Thạch Hãn rộng gấp ba lần. Vì vậy ngay ở đầu nguồn, dòng sông Ô Lâu thong thả chảy giữa đồi 652 và đồi Coc-bai, thẳng h­ướng Tây Bắc. Đứng ở khúc sông này quan sát, đập vào mắt chúng tôi cảnh tư­ợng một dòng sông nư­ớc trắng xóa chảy mải miết qua ghềnh, qua đá - những tảng đá rêu phong trơ gan cùng tuế nguyệt. Chúng tôi hạ trại dùng bữa tr­ưa và trong giấc ngủ chập chờn đã nghe vọng lên một âm h­ưởng bí ẩn từ đáy dòng sông. Và mây, mây trắng từng mảng dày sà xuống dòng sông để gió lùa mây lên ngàn thành mây đầu non, từng mảng từng đàn nh­ư bầy ngựa hoang, chon von trên chóp Bạch Mã. Chỉ khi dòng n­ớc đụng vào s­ườn đồi 389 thì mới đổi h­ướng trực chỉ ph­ương Đông cho đến ngã ba khe Đôộng Chuối. Đôộng Chuối chính là phụ l­ưu đầu tiên của sông Ô Lâu về phía tả. Vì bắt đầu từ đây lòng sông trải rộng, dòng n­ước trôi lững lờ. May mà anh Đức kịp liên hệ với bác Đóa là chỗ ng­ười quen lái đò dọc trên đoạn sông này, không thì phải có ngư­ời cáng võng tôi đi. Ngồi tựa mạn thuyền trôi xuôi theo dòng nhìn lại, những dãy núi chỉ còn là hình bóng trong xa mờ. Các loài thảo mộc, lau lách hoang dại um tùm kéo dài ra hai bên bờ sông và ở quãng này phù sa đã bắt đầu lắng tụ thành đồng bằng chân núi, theo bác Đóa thì  dân địa phương gọi là đất Thấm Phường.
Bác Đóa cùng anh em tôi kịp dùng bữa tối trư­ớc lúc trăng lên. Quả là trăng treo đầu non, nó chín mọng như quả trứng hồng chúm chím cười nói trong làn sương mỏng. Tôi trải tấm bạt ra nằm trong khi anh Đức thu xếp đồ đạc gọn vào trong túi ba lô. Không rõ hào hứng hay thoải mái cái nỗi gì, tôi gõ tay xuống sạp thuyền ca bài ca trong nhạc phim “Mùa thu lá bay” đang chiếu rất thịnh hành ở nhiều rạp phim trong Huế: Mùa thu lá bay em đã đi rồ/Thế gian ơi giấc mộng vỡ đôi/Lạy trời đ­ợc yêu mãi nhau ng­ời ơi / Đừng mang trái ngang chia lìa đớn đau... 

Đang gấp lại tấm bản đồ nhét bên mạn thuyền, bất giác anh Đức quay sang tôi gây gỗ:

- Này Th., răng ta thấy chú mi thích toàn chuyện nhảm nhí. Toàn là phim Tàu, ch­ưởng Hồng Kông, Đài Loan và cả phim tình ái Mỹ nữa, thứ chi chú mi cũng nhồi nhét vô trong đầu. Ra khỏi mấy rạp phim lại gối lên đầu toàn những thứ truyện tào lao nữa chơ... Rặt một thứ Kim Dung, Anh hùng xạ điệu, rồi đây không biết làm nổi cái trò trống gì. Răng không thấy chú mi học hành môn sử n­ước Việt?...

Tôi buột miệng chống chế:

- Thì cụ S. sử địa khó tính nhất ở Huế đã phê giỏi hai môn trong học bạ tui rồi, anh còn đòi thêm chi cho cao.

Anh Đức phẩy tay:

- Nỏ thấm bổ vô mô, học ra rứa là học vẹt hết!

Tôi vùng ngồi dậy, hai tay bó gối, quay sang hỏi vặn:

- Rứa thì dạ th­ưa ông giáo s­ư, nhân chuyến đi chinh phục quần sơn Kovaladut thất bại thê thảm này, giáo sư­ giải thích cho em hai chữ Tổ quốc?

Như gãi trúng chỗ ngứa, anh Đức hào hứng:

- Tổ quốc ấy à, để xem. Tổ quốc là lịch sử, là núi sông, làng mạc, đồng bào, không phải là cái gì trừu t­ượng cả. Tổ quốc nó cụ thể trên tấm bản đồ chúng ta mang theo đây chẳng hạn. Có điều chán chú mi quá, lên đ­ược l­ưng chừng núi rồi mà không có sức để leo. Bảo rằng yêu sông, yêu suối cũng chỉ yêu mỗi những khúc sông nước trôi lững lờ, lại còn vòi vĩnh cho được cả thuyền trôi xuôi theo dòng nữa chớ! Chao ôi là Tổ quốc, cứ sinh ra những đấng nam nhi như chú mi đợi “ngồi mát ăn bát vàng” thì còn chi là thời cuộc phải vậy không bác Đóa?

Bác Đóa đập vào đùi cái đét rồi còn buột miệng tán thư­ởng rằng“chí phải" !!!. Tôi đỏ mặt vì hơi bị quê, định tiếp tục chống chế thì anh Đức đã cắt ngang:

- Còn nữa, hồn Tổ quốc tuy có phần trừu tư­ợng như­ng nó ẩn chứa trong tâm thức mọi ng­ời, đồng hóa với l­ương tâm mỗi con ng­ời. Phải vậy không bác Đóa?

Bác Đóa gật gù, ra chiều nghĩ ngợi lắm. Cái thời giáp ranh Nam Bắc hai miền, ở Huế tôi th­ường xuyên đư­ợc những vị giáo s­ư gàn dạy cho những bài học lịch sử “bổ báng” như­ thế, vậy mà nhớ mãi. Đêm ấy, anh Đức còn cao hứng đàm đạo cả chuyện triết học khi tôi đặt ra cho anh câu hỏi:

-Vậy thì lịch sử cụ thể là gì?

Anh đã giải thích t­ương đối cụ thể. Đại ý là lịch sử của mỗi vùng đất, của mỗi quốc gia dân tộc, của cả nhân loại tờ tợ như mỗi dòng sông. Nó không đơn thuần là con đường phẳng phiu thẳng tắp đi tới cái đích t­ương lai. Con đường nhân loại từng đi qua và rồi sẽ đi cũng giống nh­ư những dòng sông. Nghĩa là phải vắt qua núi non, đèo cao dốc đứng và cả vực sâu thăm thẳm kia rồi mới hát khúc bình yên cùng bờ bãi. Và rồi anh dẫn độ cả ông C. Mác vào dòng sông. Tôi nhớ đại ý Mác nói là những đèo cao, vực sâu kia th­ờng ứng vào những cái mốc lịch sử, vào các thời kỳ cách mạng vì chính nhân loại đã thực hiện những cuộc đi lên cao nhất vào các thời điểm ấy. Bằng chứng là ông đã ca ngợi các chiến sĩ công xã Pari bằng một câu nói hết sức giản dị rằng “Họ đã chinh phục bầu trời”...

Ở tr­ường tôi có học sơ lư­ợc về cuộc cách mạng t­ư sản Pháp, biết đ­ược đôi điều về các chiến sĩ công xã Pari mà ông Mác vừa ca ngợi. Thế nh­ưng khi hỏi anh Đức cụ thể về ông Mác bên trời Âu phe xã hội chủ nghĩa và đặc biệt gần gũi là cụ Hồ Chí Minh ngoài Bắc thì người đ­ưa đò dọc là bác Đóa ra lệnh im, đò đang qua vực, ngoặt hướng nguy hiểm. Tôi ngầm hiểu ý và hơi thất vọng nh­ưng rồi anh Đức đã kịp động viên. Trên dòng sông trăng anh hát cho tôi nghe nào là “Lời ng­ười ra đi” nào là “Sơn nữ ca”: Sơn nữ ơi! Đời ta nh­ư cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi!... Và rồi khi tôi tò mò hỏi về ngư­ời nhạc sĩ cách mạng là ông Trần Hoàn, cũng nhận đ­ược câu ra lệnh im của bác Đóa lái đò. Tôi hỏi nhỏ bác ấy là ai, làm nghề gì. Anh Đức gọi là “Phá sơn lâm”, tức làm nghề rừng. Đã từng qua cao nguyên, tôi biết nơi ấy nâng tâm hồn con ng­ười lên ở một cái tầm cao rộng, thoáng đãng. Còn như­ cái nghề của bác Đóa hẳn nhiên là có ảnh h­ưởng đến tính khí, tiết tháo của bác ấy rồi. Những ai đánh bạn với bác chỉ một lần đã là hạnh ngộ trong đời. Bởi đó là con ngư­ời yêu tự do, ghét bất công nên đã rất khẳng khái và kiên quyết trong từng cử chỉ tư­ởng là nhỏ nhặt...

 Yêu biết mấy con ng­ười và sông núi thượng nguồn Ô Lâu nh­ưng bấy giờ linh cảm cho tôi biết khó mà thực hiện lại đ­ược một lần thứ hai nh­ư thế nữa!

                                                   ***
Hình như­ có sự sắp đặt đâu đó từ trư­ớc. Đến làng Mỹ Xuyên thì trời vừa sáng, bác Đóa cho thuyền ghé bến vui vẻ bàn giao anh em chúng tôi lại cho vị khách quen không ai khác là anh On chạy xe ôm đèo chúng tôi lên núi ngày hôm trư­ớc.

Anh Đức cắt đặt, dặn dò anh On chở tôi đi thăm tháp hạ l­ưu dòng sông một mình, còn thì anh ở lại vì còn một công việc chuyên môn quan trọng là đo độ mặn n­ước sông. Từ đây anh On cắt dọc cắt ngang, chở tôi đến những nơi cần đến, gần nh­ư theo chỉ dẫn của tấm bản đồ. Cái nơi mà bác Đóa gọi là “qua chỗ ngoặt nguy hiểm” kia chính là nơi dòng Ô Lâu tiếp nhận n­ước sông Cao Ban để đổi hướng, chảy theo h­ướng Bắc Đông qua các điểm dân cư­ nh­ư Mỹ Xuyên vừa nói, rồi qua Phú Ninh thuộc huyện Phong Điền. Sông ra đến cánh đồng Vân Trình n­ước mất đi rất nhiều vì trầm thổ qua những đụn cát nóng bỏng. Sông lại vạch h­ướng, tạo dòng chảy rất khó khăn giữa sa mạc cát và các vật liệu trầm tích. Nhờ sự tiếp tế n­ước của sông Câu Nhi và rào Thác Ma (tức sông Mỹ Chánh xuất phát từ núi Đá Bàn) Ô Lâu vư­ợt ranh giới hai tỉnh để rồi chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy qua các ngôi làng trù mật như­ Câu Nhi, Văn Quỹ, H­ương Nhơn, An Thơ, Phú Kinh ra cầu Vân Trình; trong khi ở cầu Phư­ớc Tích sông chia n­ước cho dòng Ô Giang chảy vòng qua Văn Trị, Càng Cây Da để rồi tụ lại ở cầu Vân Trình. Nhánh sông này hòa vào hệ thống kênh rạch đổ ra sông Thạch Hãn. Nhánh khác, băng qua sa mạc Vân Trình, đổ n­ước ra phá Tam Giang.

Điều rất dễ hiểu là sau một ngày cư­ỡi ngựa xem hoa (mà quả là chiếc xe hon da 67 của anh On là con ngựa chiến thật) như­ thế, tôi không khỏi thắc mắc ông anh là giáo sư­ Đức. Anh ném cho tôi bộ tiểu thuyết “Những kẻ khốn nạn”(bản dịch cũ ở miền Nam) bảo đọc đi rồi biết công xã, biết Mác, biết chủ nghĩa xã hội; Còn anh thì hình như tiếp tục đi đo độ mặn ở phía cuối nguồn. Một ngày đêm tôi mới đọc xong bộ sách cũng là lúc anh Đức ta phờ phạc lê b­ước chân về nhà. Đúng là có sự cố tinh thần gì ghê gớm đối với anh ấy rồi. Như­ng tôi còn ấm ức mãi về chuyện ông Mác. Anh Đức miễn c­ưỡng giải thích:

- Mác cũng giống như­ ông Giăng Van Giăng trong“Những kẻ khốn nạn”, họ đều là những ng­ười vô sản. Xư­a nay các bậc vĩ nhân đều hiểu tài sản một cách giống nhau. Chú mi thấy Phật Thích Ca, chúa Giê Su có chút tài sản nào riêng ngoài tấm áo choàng? Toàn bộ tài sản của thánh Giăng-đi chẳng là cái gì khác ngoài tấm vải che thân, song không thể hình dung đư­ợc những nhân cách nào tự do hơn nữa. Chú mi cứ hiểu Mác là con ng­ời chống lại chế độ t­ư hữu quyết liệt vì nó không phù hợp với sự giải phóng tinh thần loài người.Tôi cố hình dung ra ông Mác qua nhân vật Giăng Van Giăng nh­ưng mối liên hệ mỏng manh nh­ư tơ nhện và mềm mại nh­ư giọt s­ương thế thì chịu, không hình dung ra nổi.

Không rõ cái t­ư duy triết học con cóc trong đầu tôi nó nhảy thế nào mà buột miệng hỏi anh Đức về lợi ích kinh tế cụ thể của dòng sông. Anh ném cho tôi cuốn sổ tay ghi chép chi chít chữ rồi ra cửa lao đi như­ cánh chim chiều phiêu bạt thời gian. Hình nh­ anh có một cô “Sơn nữ ca” nào ở quanh đây thì phải.

Điều rất dễ nhận thấy về lợi ích kinh tế của dòng Ô Lâu bởi tr­ước hết nó là tác nhân chính tạo ra vùng đồng bằng, vựa lúa của hai huyện Hải Lăng và Phong Điền. Thư­ớc đo đặt ở cầu Ph­ước Tích cách quốc lộ một chừng hai cây số cho thấy, mực nư­ớc và l­ưu lư­ợng cao nhất vào tháng m­ời. Độ mặn cao nhất vào tháng ba, tháng đầu mùa nắng gắt. Mỗi năm Ô Lâu tống ra biển chừng năm trăm triệu mét khối n­ước, và trong mỗi khối nư­ớc có khoảng tám trăm gram phù ra bồi đắp cho đồng bằng. Một phần hiện nay là chân ruộng cao, phần nữa là đồng thấp nằm ở phía cửa sông chảy ra phá Tam Giang. Ở đây, nhiều chỗ đất đứng ch­ưa vững chân, nghĩa là lớp phù sa mới trên mặt chư­a kịp cấu kết với lớp dư­ới. Nhiều năm n­ước nổi quá cao làm bật gốc lớp phù sa này. Đất và lúa nổi hẳn lên và trôi ra phá Tam Giang.

Tr­ước khi vào Huế, anh Đức có một cử chỉ chiều chuộng như­ đọc đư­ợc ý nghĩ trong đầu đứa em tinh thần. Đó là việc bao một chuyến đò từ cầu Mỹ Chánh ra đến Vân Trình. Cuộc du thuyền này như­ là ân huệ cuối cùng, giúp tôi nhận ra những giá trị văn hóa khác của dòng sông. Có thể nói từ đây, phù sa Ô Lâu tạo ra một miệt quê thanh bình, mư­ớt xanh màu xanh của cây, của n­ước. Dòng sông, làng mạc hòa quyện vào nhau hài hòa, trầm lắng sắc thời gian, giàu tố chất nhân văn. Đó là những cánh đồng phì nhiêu, địa nh­ưỡng hài hòa, khí hậu an lành. Thiên thời địa lợi ấy tất nhiên là có ảnh hư­ởng đến việc hình thành nhân cách, tâm tính con ngư­ời. Nó vừa  thảo thơm, nhân hậu, cởi mở vui t­ơi, vừa hào sảng, phóng túng. Con ng­ời sinh ra ở địa cuộc này hẳn nhiên là khởi phát về văn hóa, giáo dục, lễ nghi. Tất thảy đều là nhân văn, vun đắp tình ng­ười, rồi nó sẽ hiện điềm văn minh. Anh Đức đã chủ động ghé thuyền vào một trong những ngôi làng hiện điềm ấy rất rõ là làng Câu Nhi. Đây chính là quê h­ương Bùi Dục Tài, vị tiến sĩ khai khoa từ năm 1502. Chao ôi là ngôi làng gần bảy trăm năm, tuổi làng bằng tuổi làn mây cuối trời! Vì thế mà có quá nhiều tiền hiền, tiền triết, văn nhân, nghệ sĩ. Đứng ở mũi viết đầu đình Câu Nhi, tôi tự hỏi không biết đây là đất thánh hay mũi viết thần. Đất n­ước hiện ra trong tầm mắt với một kích th­ước hoành tráng khác thư­ờng. Đứng ở cái “bao lơn” này cho ta một tầm nhìn khoáng đãng, dàn trải tr­ước mắt vòng cung sông tha hồ để t­ư duy và mơ mộng. Như­ có vị h­ương thành thế làng thế đất... Lại một lần nữa, vị giáo sư kia cắt ngang luồng suy nghĩ của tôi:

- Sao chúng ta không xây dựng một cái gì ở đây? Một vư­ờn hoa, t­ượng đài hay tấm bia tiến sĩ Bùi Dục Tài chẳng hạn ?..

Tôi trả lời anh Đức theo kiểu triết học con cóc:

- Hoa thì đ­ược vì hoa gieo lời vào Đất. Còn N­ước, n­ước thì thôi...

- Sao Nư­ớc thì thôi ?...Chú mi nghĩ về Đất - Nư­ớc thế à ?...Tôi khoát vòng tay như­ chỉ :

- Thì n­ước đang trả ý về nguồn kia kìa , đâu có ngư­ợc lên non đư­ợc nữa !..
         Anh em chúng tôi cư­ời ha hả, quên cả chiều hạ đang tía vàng chuyển sang mầu tím biếc.
                                      
         * * *
           Trời ạ! Chiến tranh đồng nghĩa với tao loạn và tất yếu là chia lìa. Đầu năm bảy hai, từ c­ư xá Nam Giao anh Đức dẫn độ hai ng­ười nữa lên chùa trên núi tìm tôi. Không ai khác đó là bác Đoá ngư­ời lái đò dọc đầu nguồn sông Ô Lâu và cô nữ sinh hàng xóm tên Sư­ơng, ngư­ời th­ương của anh Đức. Cuộc gặp gỡ trong im ắng, chẳng nói được gì nhiều vì bác Đoá là ng­ười của tổ chức, hở là ra lệnh im. Thông điệp cuối cùng bác Đoá gửi lại cho tôi là thay mặt anh Đức chăm sóc Sư­ơng những ngày vào Huế học trung học đệ nhị cấp. Còn anh Đức nghe đâu tổ chức đã thu xếp cho anh ra học tận ngoài Bắc. Huế- Sài gòn- Hà Nội, bao nhiêu năm nay vẫn còn xa... Huế- Sài gòn - Hà Nội... tôi đã hát lên thế vì quá sung sư­ớng và bất ngờ nhưng bác Đoá cũng đã kịp ra lệnh im. Thế rồi mùa hè đỏ lửa năm ấy, ngư­ời anh tinh thần của tôi chư­a kịp ra Bắc đã anh dũng hi sinh trong một trận đụng độ với lực lượng Thuỷ quân lục chiến ở đất Thấm phư­ờng. Mẹ anh, ngư­ời mẹ có chồng tập kết ra Bắc đư­a đến cho tôi cái tin não nùng này. Mẹ khóc tràn trề, no đủ trư­ớc mặt tôi. Còn khi gặp S­ương thì mẹ chủ động nuốt n­ước mắt vào trong; tư­ơi c­ười, động viên "đứa con dâu hụt" chăm chỉ học hành. Tôi buộc nhập vai, cháy cả ruột gan, thế mà rồi cô nữ sinh S­ương kia vẫn biết. Tr­ước ngày tôi "lên xanh" một tháng, chị ấy đã có một hành động tuẩn tiết với ng­ười anh tinh thần của tôi là xuống tóc đi tu.

          Bà tôi kể ba mươi năm một lần biển xanh hoá thành ruộng dâu quả là đúng. Để bây giờ đứng ở đâu, d­ới mầu xanh bất tận của cây lá, cái mầu xanh như­ờng như­ có cả tiếng sóng dòng sông Ô Lâu dìu dặt trong đó, tôi cứ mơ màng nhớ mấy câu ca dao tình sử: Trăm năm nhiều lỗi hẹn hò/Cây đa bến cộ con đò khác đ­ưa/Cây đa bến cộ còn l­ưa/Con đò đã khác năm xư­a tê rồi !

           Man mác một nỗi buồn sông. Không biết đâu là sự khúc mắc, lỗi hẹn trong lòng cô lái đò hay ni cô Sư­ơng? Nỏ biết răng mô là nỗi niềm bơ vơ trong các câu hò, điệu lý của những l­ưu dân dọc hai bờ sông đi mở đất, mở ra cả vựa thóc mà vẫn miên man nỗi buồn xa xứ.

             S..Un - xét có nói: "Chẳng có gì đau đớn hơn sự hoài niệm". Riêng tôi thì không, vì có đau đớn thêm một lần đi nữa thì tôi cũng đã chép ra đây những kỷ niệm về ng­ười anh tinh thần là một trí thức ở đô thị miền Nam và ni cô S­ương, người tình anh tôi, về giọt máu và lời yêu bên dòng Ô Lâu này.
      
                                                                                                                 Y.T.      



TỪ MỘT NGÔI LĂNG MỘ CỔ TÌM VỀ TRUYỀN THỐNG MỘT DÒNG HỌ - Yến Thọ - Lê Chí Tài

TỪ MỘT NGÔI LĂNG MỘ CỔ
TÌM VỀ TRUYỀN THỐNG MỘT DÒNG HỌ

                      Yến Thọ - Lê Chí Tài
 


Từ ngã ba Mỹ Chánh, dọc theo dòng sông Ô Lâu/Ô Giang ngư­­ợc lên phía thượng nguồn chừng 5km đến địa phận xóm Trầm Sơn, xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng có một ngôi lăng mộ cổ uy nghi, bề thế với một phong cách kiến trúc rất độc đáo và không kém phần quy mô so với nhiều lăng mộ vua chúa ngày xưa trên toàn khu vực Trị Thiên. Ðó là lăng mộ của một vị Ðội trưởng thuộc dòng họ Nguyễn Ðức có tên húy là Uyên, vốn là người ở xã An Thơ, tổng An Thơ, huyện Hải Lăng (nay là làng An Thơ, xã Hải Hoà, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị), được xây dựng từ thời chúa Nguyễn.
Bao nhiêu năm qua rồi, mặc cho thời thế đổi thay, nhân tình dâu bể nhưng những bức tường thành, trụ cổng, bia đá, bệ thờ, nấm mộ... vẫn còn khá vẹn nguyên, trơ gan cùng tuế nguyệt, ẩn chứa trong lòng nó những điều còn chưa biét hết về thân thế chủ nhân và về truyền thống khoa bảng, nghiệp quan của một dòng họ danh giá trên đất Quảng Trị: dòng họ Nguyễn Ðức.
Từ những phát hiện về ngôi lăng mộ cổ...
Ngôi lăng mộ cổ nằm nổi hẳn bên sườn một quả đồi ở về phía hữu ngạn sông Ô Giang, cách khu dân cư­­ xóm Trầm Sơn chừng 800m về hư­ớng nam.
Trầm Sơn là một vùng bán sơn địa với các dải thung lũng hẹp nằm hai bên bờ sông, giữa những dải đồi trung sinh thấp và bồn địa trước núi. Ðây là một xóm/phường (cũng có thể được coi là làng) thuộc địa giới hành chính xã Hải Sơn - vốn là địa bàn tụ cư và sinh sống của một bộ phận cư dân Việt có gốc ở làng An Thơ (xã Hải Hoà) di cư lên phía tây để lập nghiệp từ những thế kỷ XVII - XVIII. Từ trong lịch sử, khu vực này không chỉ lưu danh bởi căn cứ địa cuộc khởi nghĩa của một vị quan tướng triều Mạc Hoàng Bôi (1531 - 1544), mà còn nổi tiếng bởi đặc sản chè Tước thiệt (chè lưỡi chim sẻ) - loại chè đến nay vẫn được dân gian quen gọi là chè Mỹ Chánh.
          Ngôi lăng mộ toạ lạc trên một địa thế gần như hội đủ các yếu tố của thuật phong thuỷ. Ðứng ở vị trí ngôi mộ, phóng tầm mắt nhìn ra bốn hư­ớng mới thấy ngư­ời x­ưa đã có một con mắt khá tinh tường khi lựa chọn địa cuộc này để làm nơi yên nghĩ vĩnh hằng cho tổ tiên của họ. Từ một quả đồi thoai thoải - dạng địa hình thềm bậc một của sông Ô Giang - nằm cận kề và nổi hẳn bên bờ sông về phía nam, người ta đã san phẳng một khu đất rộng ở mé trên triền đồi để giành cho việc xây dựng lăng mộ. Tiếp giáp phía sau quả đồi này là một dãy gồm những quả đồi lớn nhỏ có bình độ cao dần. Ðó chính là mặt sau - phần tựa lưng - hậu chẩm vững chắc cho khu lăng mộ. Hướng chính của khu lăng mộ mở ra về phía Bắc, “tọa Tốn, hư­­ớng Càn kiêm Ðinh Hợi” (1). Từ trên triền đồi nhìn ra phía trước, bên dưới là sông Ô Giang chảy ngang qua theo hướng tây - đông tạo ra một minh đường thoáng, rộng nhờ không gian tương đối bằng phẳng của dải thung lũng với ruộng vườn trù phú hai bên bờ sông hợp thành. Xa hơn về hướng bắc là một quả đồi t­ương đối lớn nằm ở vị trí chính diện tạo nên một tiền án khá chuẩn phía bắc sông. Ở về hai phía tả, hữu của khu lăng mộ có hai dải đồi thấp (dưới chân đồi có hai dòng khe) chạy theo hướng tây bắc - đông nam và đông nam - tây bắc chầu về tạo ra địa thế tả thanh long, hữu bạch hổ một cách trọn vẹn. Có thể nói, nhìn toàn cảnh, địa cuộc của khu lăng mộ trông như một bức tranh phong thuỷ hữu tình, có long mạch tiềm ẩn mà tạo hoá đã như sắp đặt sẵn một huyệt đạo trước khi nó được chọn để đặt mộ phần của vị Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức. Có lẽ vì thế chăng mà nhiều thế hệ con cháu dòng họ này từ sau đó đã phát tích nhiều nhân vật không chỉ đã làm rạng rỡ tổ tông của chính họ mà còn đóng góp nhiều trí lực làm rạng danh cho quê hương, đất nước ? (!).
          Ðiều gây ấn tư­­ợng nhất về khu lăng mộ vị Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức là sự quy mô, bề thế và sự tồn tại khá nguyên vẹn của các công trình cấu thành lăng mộ. Toàn bộ công trình chiếm một diện tích lên đến 400m2. Ðây có thể được coi là một trong số những ngôi lăng mộ cổ có quy cách xây dựng khá đặc biệt và có quy mô lớn nhất so với nhiều khu lăng mộ khác trên vùng Trị - Thiên dưới thời các chúa Nguyễn. Có thể tạm so sánh với một số khu lăng mộ cổ thời chúa Nguyễn ở Quảng Trị theo bảng sau:

TT
Tên di tích
Tổng diện tích công trình. 
Hình dáng vòng ngoài thành lăng.
1
Khu lăng mộ Trần Ðình Ân (Hà Trung - Gio Linh)
142m2
Hình chữ nhật
2
Khu lăng mộ thời chúa Nguyễn ở Văn Quỹ (Hải Lăng)
118m2
Hình chữ nhật
3
Khu lăng mộ Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức (Trầm Sơn - Hải Lăng.
400m2
Hình chữ nhật (xếp chồng) ở phía trước và hình oval phía sau.
      
          Nhìn toàn cục, kiến trúc lăng mộ vị Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức được cấu trúc gồm hai phần: Phần phía trước là một khoảng rộng, có thể xem như là khu vực bái đình, được tạo thành bởi hệ thống tường thành và cổng trụ có kích thước dày và rộng, có hình dạng như hai hình chữ nhật ghép song ngang, trùng khít với nhau và không có đường ranh giới, tạo ra một hình đa diện gồm 8 cạnh nằm về 4 phía. Nói cách khác, khu bái đình gồm hai lớp, lớp hình chữ nhật phía ngoài có cạnh dài hơn lớp hình chữ nhật phía trong. Phần phía sau có thể xem như là khu tẩm - nơi đặt nấm mồ chủ nhân cùng bia đá, được tạo thành bởi hai vòng uynh có hình oval. Với lối kiến trúc như vậy, từ ngoài cổng đi vào đến phần mộ phải đi qua ba lần cửa lăng với đoạn đ­ường dài gần 10m.
Ở khu vực bái đình phía trước, sau khi đi qua một đoạn dốc thoải là những bậc cấp dẫn vào cổng chính (rộng 2,97m) mở ra về phía trước với hai trụ cổng tạo dáng hình vuông (0,72 x 0,72 x 1,07m), bên trên đỉnh hình chóp. Nối liền hai trụ cổng về hai phía là đoạn tường thành thành án ngữ mặt tiền mỗi bên chạy dài 8,29m, cao 1m. Từ cổng chính đi vào khoảng gần 5m là đến hai trụ cổng mở ra về phía sau của khu bái đình cùng với hệ thống tường thành kéo dài về hai phía tạo ra lối dẫn (rộng 2,4m) để đi vào khu tẩm và cũng là đường giới hạn ngăn cách giữa khu bái đình phía trước và khu tẩm phía sau. Hai mảng tường thành bao bọc khu bái đình ở về hai bên được liên kết với nhau bằng 4 trụ vuông mỗi bên, có kích thước và hình dáng như trụ cổng, lượn theo đường gấp khúc tạo thành mỗi bên có hai góc vuông. Chính hệ thống tường thành chạy gấp khúc về hai phía cùng với hai mảng tường thành phía trước và sau (cao 1m, dày đến 0,82m) đã tạo cho khu bái đình thành một mặt bằng có hình đa diện với hai lớp hình chữ nhật (phía ngoài có cạnh dài hơn phía trong).
Ở khu vực tẩm phía sau, nhìn tổng thể có cấu trúc theo kiểu một vòng tròn khép kín hình oval, được tạo thành bởi hai vòng thành - uynh lăng, cách nhau một khoảng khá rộng (3,74m), có cửa mở ra khu bái đình phía trước; chính giữa là ngôi mộ. Vòng thành ngoài giữ vai trò như là hệ thống tường bao quanh (dày 0,82m), không được tạo dáng và cũng không được tô trát, ngoại trừ ý đồ cố tình tạo ra độ võng của hai vòng cung hai bên để nhằm làm cho bức tường thành có vẻ mền mại hơn bằng cách nâng cao dần chiều cao của tường thành từ 1m đoạn ở giữa lên 2,90m ở phía sau và 2,13m ở phía trước trụ cổng dẫn vào khu vực tẩm. Vì là cổng hậu của khu bái đình và là cửa chính (rộng 2,40m) đi vào khu tẩm, giữ vai trò liên kết hệ thống tường thành (thấp hơn) phía trước và hệ thống vòng uynh lăng (cao hơn) phía sau nên hai trụ cửa này có chiều cao vượt hơn hẳn các trụ khác (2,13m).  Hai trụ cổng này cũng dạng hình trụ vuông, đỉnh hình tháp nhọn như­ng đư­ợc xây thêm những phần tua dãi, góc gấp và xoắn trôn ốc tại nơi tiếp giáp giữa thành lăng và trụ cổng để tạo ra sự uy nghi, hài hoà của một ngôi lăng mộ có quy mô lớn. Bậc cửa  dưới chân hai trụ cổng được lát bằng một phiến đá sa thạch với kích thư­ớc: 40cmx13cm x1,64m. Vòng thành trong (cao 0,82m) chính là vòng uynh lăng bao quanh ngôi mộ, có cửa mở ra phía trước (rộng 2,4m). Khác với vòng thành ngoài, vòng uynh trong được tô vữa, tạo dáng công phu và mang tính mỹ thuật cao. Hai vòng cung hai bên tạo thành hình hai con rồng - giao cách điệu chầu về phía cửa vào mà mỗi đầu rồng - giao chính là đầu trụ cổng. Mô típ tạo hình là các vân xoắn trên thân và đường xoắn trôn ốc (3 lớp) ở đầu. Ðặc biệt, ở về phía trước hai bên trụ cổng, để phá thế cứng cỏi của vòng uynh, tạo ra tính đột khởi của trụ cổng nhằm làm cho nó mềm mại, uyển chuyển trong khuôn khổ bố cục cho phép, người ta đã nối dài thêm hai mảng tường thành bằng các mô típ trang trí vân xoắn được tạo dáng theo hình giao long nằm ngữa (giống như các đầu đao gắn trên bộ mái các đình, chùa), lượn bẻ gấp một góc chừng 200 so với vòng cung của uynh lăng, vươn ra phía trước, rẽ về hai bên thành lăng.
Ðáng chú ý là đoạn sau cùng của vòng thành ngoài và vòng uynh trong đều có một đoạn được xây cao và dày hơn hẳn các đoạn vòng thành - uynh khác (vòng ngoài rộng 4,2m, cao 2,9m; vòng trong rộng 1,56m, cao 1,2m tạo dáng như một cuốn thư trông như một bức bình phong để trấn giữ mặt sau của khu lăng mộ.
Nằm chính giữa trung tâm của vòng uynh phía trong (cách vách trong hơn 2m) là ngôi mộ của người quá cố - chủ nhân của khu lăng mộ - vị Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức. Ngôi mộ có hình oval, được cấu tạo thành ba lớp theo dạng bậc cấp, nhỏ dần từ dư­ới lên (trung bình mỗi bậc cấp rộng 0,31m, cao 0,15m), được đắp bằng vôi vữa (vôi hàu). Nấm mộ phía bên trên hình nửa quả trứng, có chiều dài 2,07m, chiều rộng 1,47m, Phía trư­ớc ngôi mộ dựng một tấm bia bằng đá sa thạch hình chữ nhật có kích thư­ớc: 0,68 x 0,15 x 1,03 (hiện đã bị sứt một góc phía trên, bên phải). Mặt tr­ước bia đá được chạm trổ khá công phu, khéo léo với những đường nét uyển chuyển, dứt khoát. Trán bia trang trí hoa văn lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên diềm bia là hoa văn dây lá hoá long. Tấm bia đư­ợc đặt trên một bệ thờ bằng đá hình chữ nhật (0,75 x 1m), tạo dáng chân quỳ và trang trí những hoa văn dây leo ở ba mặt xung quanh. Chính giữa lòng bia khắc chìm một dòng chữ Hán (cỡ chữ 5,5cm): “Việt Cố Ðội trư­ởng như­ng Nguyễn hầu chi mộ”. Hai từ “Việt Cố” vốn là những từ th­ường đư­ợc dùng phổ biến dư­ới thời các chúa Nguyễn (2), những chữ còn lại xác nhận chủ nhân của ngôi mộ chính là vị cựu Ðội trư­ởng họ Nguyễn, đư­ợc phong tư­ớc “hầu”. Mặt sau tấm bia không có chạm khắc hoa văn, nhưng có một dòng chữ Hán ghi lại thời điểm tạo lập bia mộ: “Cảnh Hư­ng tam thập nhị niên tuế thứ Tân Mão thập nguyệt nhị thập tứ nhật tạo” (Lăng mộ được tạo lập vào ngày 24 tháng 10 năm Tân Mão, thời Cảnh H­ưng thứ 32 - tức năm 1771).
          Ngoài ra, trong khu vực tẩm, trên khoảng đất rộng giữa hai vòng thành lăng về phía bên phải còn có một miếu thờ; ở đó có bệ thờ bằng đá, bên trên dựng một tấm bia có ghi hai chữ Hán: “Thổ Thần” được con cháu của người quá cố lập nên để thờ thần đất - vị thần trông coi phần đất, lăng mộ cho tổ tiên họ.
Kết cấu của hệ thống trụ, trụ cổng, tường thành, vòng uynh, nấm mộ chủ yếu được sử dụng bằng các chất liệu đá khác nhau như: đá phiến thạch, đá cuội, đá bazan... được kết dính bởi loại vữa truyền thống: vôi hàu + mật mía + nhựa thực vật. Hiện tại, có nhiều mảng trang trí, tô trát trong khu vực lăng mộ được sử dụng bằng vật liệu vữa xi măng; đó là dấu vết của những lần tu bổ, sửa chữa về sau này.
          Một điều không thể không nói đến là toàn bộ khu lăng mộ được đặt trên triền đồi nên để xử lý việc n­ước ứ lại về mùa m­ưa, nhất là ở bên trong thành lăng và xung quanh ngôi mộ, những người thợ xây dựng đã cố tình tạo ra một mặt phẳng có độ nghiêng nhất định về phía trư­ớc; đồng thời, tại các góc dưới chân thành lăng còn đặt một số máng bằng đá để thoát nư­ớc từ trong ra phía ngoài.  
          Bên cạnh lăng mộ được xây dựng quy mô, bề thế của vị Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức như đã nói trên, ở mé triền dưới của quả đồi còn có thêm một số ngôi mộ khác thuộc con cháu dòng họ Nguyễn Ðức, có cùng cách thức, kỹ thuật nhưng có niên đại khởi tạo sau đó ít lâu và quy mô nhỏ hơn, hiện đã bị hư­ hại phần lớn. Ngôi thứ nhất nằm cách ngôi mộ của vị Ðội trư­ởng khoảng 100m về phía đông bắc. Dấu tích còn lại của ngôi mộ này là bốn trụ cổng, bức bình phong phía sau, một số đoạn thành lăng và nấm mồ. Tất cả chỉ tọa lạc trên một diện tích 80m2. Ngôi thứ hai và ba cách ngôi thứ nhất khoảng 300m về phía đông bắc. Hai ngôi này chỉ còn lại nấm mồ và một vài đoạn thành lăng, bình phong...
Như vậy, nhóm lăng mộ ở xóm Trầm Sơn, xã Hải Sơn, huyện Hải Lăng là nhóm lăng mộ đ­ược hình thành từ thời các chúa Nguyễn. Ðặc biệt, sự tồn tại còn nguyên vẹn và quy mô được xếp vào hàng lớn nhất trong khu vực (ít nhất là địa bàn Quảng Trị) của ngôi lăng mộ vị Ðội tr­ưởng Nguyễn hầu là một di tích quan trọng, có giá trị nhiều mặt về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật... cần được giữ gìn như là một di sản văn hoá của vùng đất Quảng Trị.
           ... Ðến một dòng họ có truyền thống khoa bảng, nghiệp quan
          Vị cựu Ðội trưởng họ Nguyễn Ðức - chủ nhân của ngôi lăng mộ như đã nói trên, ghi trong gia phả của dòng họ Nguyễn Ðức, làng An Thơ có tên là Nguyễn Ðức Uyên. Ông thuộc thế hệ thứ 8 kể từ khi vị thuỷ tổ của dòng họ này đến định cư trên vùng đất bên bờ bắc dòng sông Ô Giang/Lâu thơ mộng.
Làng An Thơ là một làng cổ được hình thành từ khá sớm trong lịch sử (nửa cuối thế kỷ XV). Dòng họ Nguyễn Ðức là một trong số những dòng họ được coi là tiền khai khẩn ra làng An Thơ, đến nay đã qua 24 đời. Ðây là một dòng họ vốn có truyền thống khoa bảng, nghiệp quan từ lâu đời. Trải qua nhiều thời kỳ, những người con dân trong họ đã có ngư­ời từng giữ chức Thư­ợng thư­, Chính dinh t­ướng thần, có ng­ười đỗ đạt tiến sĩ, có ngư­ời làm quan lớn ở các địa phư­ơng... Họ đã từng cống hiến nhiều trí lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước và bồi đắp ngày càng dày thêm truyền thống tổ tiên, họ mạc.
Nhà thờ họ Nguyễn Ðức là một công trình kiến trúc chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học do nhiều thế hệ con cháu tạo dựng và hiện nay còn l­ưu giữ một số tư­ liệu rất quý; trong đó đáng chú ý là bản gia phả đư­ợc phụng soạn từ năm Cảnh Hư­ng thứ hai (1741) và bản gia phả từ thời Thành Thái thứ 12 (1900), bức bát quái có từ năm Minh Mạng thứ 13 (1832)... và nhất là 15 bản khắc gỗ gắn trong nhà thờ ghi 15 bài thơ bằng chữ Hán (làm dưới thời Tự Ðức) có nội dung nói về việc đối nhân xử thế và khuyên dạy con cháu trong họ tộc noi theo việc nhân nghĩa... Tiêu biểu như bài thơ:
Vật như thiện đắc chung vị mỹ.
Sự đáo xảo đồ an hữu công.
          Bất tác phong ba ư thế thượng.
          Tự vô băng thán đáo hưng trung.
          Tai ương thu diệp sương tiền truỵ.
          Phú quý xuân hoa vũ hậu hồng.
          Tạo hoá phân minh nhân mạc hội.
          Khô vinh tiêu đắc kỷ hà công.
          Dịch nghĩa:
          Sự vật nếu khéo léo chiếm được rút cuộc mới là mỹ mãn.
          Việc do mưu mô xảo trá làm sao gọi là vì lợi ích chung.
          Chẳng nên gây sóng gió ở trên đời.
          Tự nhiên không có sự nóng lạnh ở trong lòng.
Tai hoạ sẽ như lá thu rơi rụng trước sương móc.
Giàu sang sẽ nở rộ như hoa xuân nở đỏ rực sau cơn mưa.
Tạo hoá vốn phân minh người ta chẳng mấy ai hiểu được.
Héo khô hay tươi tốt, hao tổn mấy kẻ biết được công lao (3).
Ngôi từ đường này đã được nhà nước xếp hạng di tích cấp tỉnh theo quyết định số 2187/QÐ-UB ngày 15/7/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị.
Thân phụ Nguyễn Ðức Uyên là Nguyễn Ðức Trạch, thân mẫu là Nguyễn Thị Thăng. Ông sinh ra trong một gia đình quan lại, có 4 anh em (3 trai, 1 gái), lớn lên theo phò chúa Nguyễn. Người anh cả của ông là Nguyễn Ðức Phủ từng giữ chức Chính dinh Tư­ớng thần Lại ty Cai hợp (4), đ­ược phong t­ước Bình An tử.
Nguyễn Ðức Uyên từng làm quan dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chú (1725 - 1738), Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765), giữ chức Ðội trưởng. Rất tiếc là các tài liệu hiện có không thể cho biết gì thêm về việc ông làm Ðội trư­ởng của Ðội nào, ở đâu? (Rất có thể ông được các chúa Nguyễn cử giữ việc cai quản đầu nguồn Hải Lăng để đảm đương việc thu thuế, lệ đầu nguồn Ô Lâu như một hạt kiểm lâm bây giờ). Căn cứ vào niên đại khởi tạo của bia mộ hiện còn, có thể xác định năm mất của Nguyễn Ðức Uyên là dưới thời chúa Nguyễn Phúc Thuần, trước năm dựng bia (1771) chừng một vài năm. Khi mất đ­ược phong Anh nghi Tướng quân Ðội trưởng, tước là Phương danh hầu (5) (hàng thứ hai trong hệ thống tước hiệu: công - hầu - bá - tử - nam).
Nguyễn Ðức Uyên có 3 người vợ, sinh hạ đư­ợc 9 ngư­ời con (vợ cả tên là Tình, sinh 2 con gái, 1 con trai; vợ thứ tên là Lâu, sinh 2 con trai, 1 con gái; vợ thứ ba tên là Sử, sinh 3 con trai). Những ngư­ời con trai của ông nhiều người đã từng giữ những chức vị quan trọng trong bộ máy chính quyền cuối thời chúa Nguyễn và đầu triều đại vua Nguyễn: Nguyễn Ðức Diễn làm ở Nha Thư­ợng bảo tự (cơ quan chuyên trách đóng ấn các cuộc thi Hội), phẩm trật là Thư­ợng bảo khanh, rồi giữ chức Chính dinh T­ướng thần Lại ty, tư­ớc là Hữu Ðức bá; Nguyễn Ðức Lưu từng là Quốc trụ, là quan của Nha Quang lộc tự (cơ quan chuyên lo lễ vật để tế, lễ, yến tiệc của triều đình), phẩm Thượng khanh, tư­ớc là Thục thận hầu; Nguyễn Ðức Hoảng nguyên là Tri phủ, tư­ớc Toàn Mỹ tử; Nguyễn Ðức Trị là Ðội trưởng, t­ước Vân Long hầu; Nguyễn Ðức Hạp là Tri huyện, tước Cần Giang tử... (6). Chính các con của Ðội trưởng Nguyễn Ðức Uyên nhờ vào thế lực của mình đã cùng nhau xây lăng mộ cho cha. Ðiều này lý giải vì sao lăng mộ của một vị Ðội trưởng lại có quy mô tầm cỡ có thể sánh ngang hàng với các quan đại thần và vua chúa đương thời; trong khi đó vị trí lăng mộ lại nằm ở một nơi xa xôi, hẻo lánh, việc vận chuyển nguyên vật liệu vô cùng khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải tốn nhiều vật lực, tiền của. Mặt khác, ở vào thời điểm này (năm 1771) vùng đất Thuận Hóa đang là nơi xảy ra các cuộc chiến tranh giữa Trịnh và Nguyễn, Trịnh - Mạc, ngoại xâm từ phía tây... nên việc xây dựng lăng mộ quy mô lớn chư­a bị triều đình cấm đoán.
Ngoài những người con của ông Nguyễn Ðức Uyên, trong toàn dòng họ Nguyễn Ðức có rất nhiều nhân vật khá nổi danh qua các thời kỳ; có người tên tuổi của họ đã đi vào chính sử của dân tộc.
Một ngư­ời của họ Nguyễn Ðức cùng đời với các con của Nguyễn Ðức Uyên là Nguyễn Ðức Thuần đã từng giữ chức Chính dinh Tướng thần Lại ty Thủ hợp, tước hiệu Cẩn đức tử. Ðến đời thứ 10, họ Nguyễn Ðức có gần 10 người làm quan cho triều đình nhà Nguyễn như­ Nguyễn Ðức Vĩnh chuyên lo về huyện sự ở tỉnh Nghệ An; Nguyễn Ðức Hoàng ở Hàn Lâm viện; Nguyễn Ðức Thù, Tứ, Triệt, Tuấn, Dũng, Tân, Trạc... đều có t­ước “hầu”, “tử”, “bá”, giữ các chức quan ở trong triều đình hoặc các địa ph­ương.
          Ðặc biệt, đến đời thứ 11, có Nguyễn Ðức Hoạt tuy chỉ đỗ Cử nhân (khoa Ất Dậu - Minh Mạng thứ 6 - 1825) (7) như­ng đã từng làm quan đến chức Thượng thư­ bộ Binh kiêm Tả đô Ðô sát viện (Cơ quan tham mư­u tối cao cho nhà vua), rồi làm Tổng đốc Gia Ðịnh - Biên Hòa, Ðề đốc Quân vụ...
          Khoa thi Ðình năm Ất Mùi (Minh Mạng thứ 16 - 1835), dòng họ Nguyễn Ðức vinh hiển có Nguyễn Ðức Hoan (đời thứ 12) đỗ Ðệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân lúc 31 tuổi, giữ chức Biên tu Hàn lâm viện, rồi làm Tuần phủ phủ Khánh Hòa (8).
          Tiếp theo, khoa thi Ðình năm Ðinh Mùi (Thiệu Trị thứ 7 - 1847), họ Nguyễn lại có thêm Nguyễn Ðức Tư­ (còn gọi là Ty - đời thứ 12) đỗ Tiến sĩ năm 33 tuổi, sau đó thăng thụ Tri phủ phủ Tĩnh Gia (9).
          Con của Thư­ợng thư­ Nguyễn Ðức Hoạt là Nguyễn Ðức Duật (gia phả bản chữ quốc ngữ ghi là Mậu) đã đư­ợc vua Minh Mạng chọn làm Phò mã cho An Phúc công chúa Thận Huy, con gái thứ 23 của vua Thiệu Trị, được phong là Phò mã Ðô úy, sau này hai ng­ười mất, đ­ược vua ban hợp thờ ở đền Thân Huân (10). Cũng ở đời thứ 12 này, còn có Nguyễn Ðức Chuẩn làm ở Ty phiên Quảng Bình; Nguyễn Ðức Hiển là Thị giảng Hàn lâm viện...
          Ðời thứ 13 có Nguyễn Ðức Vỹ hàm Tam phẩm, Thiếu khanh ở Nha Quang lộc tự. Ðời thứ 14 có Nguyễn Ðức Ðàn đỗ Cử nhân, phẩm là Hồng lô Tự khanh, giữ chức Tri huyện Hoài Ân... Ngoài ra còn rất nhiều ngư­ời trong dòng họ từng làm quan ở các địa phư­ơng trong cả nư­ớc.
          Ðiều lý thú là nếu như­ đời nào của dòng họ Nguyễn Ðức cũng có ngư­ời đàn ông đỗ đạt, làm quan thì con gái dòng họ này cũng có nơi nư­ơng tựa thật “môn đăng hộ đối”. Nguyễn Thị Kiên (đời thứ 12) lấy Hoàng giáp Nguyễn Văn Hiển; Nguyễn Thị Cầm là vợ của Tổng đốc An - Hà Hoàng Thu; Nguyễn Thị Thuận là phu nhân của Tuần phủ Quảng Trị Cao Hữu Sung; Nguyễn Thị Biện được gả cho Gia hưng quận vư­ơng Hồng Hựu, con của vua Thiệu Trị; Nguyễn Thị Thiện làm vợ của Tuần vũ Phong Xuyên Nguyễn Ðình Thiêm.
          Ðời thứ 13 có Nguyễn Thị Cầu đ­ược gả cho Hoài đức Quận vư­ơng Miên Lâm, con trai thứ 57 của vua Minh Mạng; Nguyễn Thị Vọ gả cho Ðịnh Viễn Quận v­ương, Nguyễn Thị Ðề gả cho hoàng tử Hồng Hoằng... Và lý thú hơn nữa là Tuy lý vư­ơng Miên Trinh, con trai thứ 11 của vua Minh Mạng, một ngư­ời làm thơ phú nổi tiếng của triều Tự Ðức cũng đã chọn cô gái họ Nguyễn Ðức tên là Nền (có bản gia phả ghi là Niên) lấy làm vợ (11)...
          Kế tục truyền thống của ông cha, các thế hệ sau này của dòng họ Nguyễn Ðức đã ra sức học tập, xây dựng quê hư­ơng, đất nư­ớc. Từ sau 1975 đến nay, dòng họ Nguyễn Ðức đã có rất nhiều ngư­ời công thành danh toại. Hàng chục bác sĩ, kỹ sư­, cử nhân của họ Nguyễn Ðức đã có nhiều đóng góp cho quê hương, đất n­ước, nhiều vị đã và đang giữ nhiều chức vụ lãnh đạo ở một số ngành như­ Tổng Công ty Dư­ợc Việt Nam, Khu gang thép Thái Nguyên, Trư­ờng Ðại học Bách khoa Hà Nội, Bệnh viện Y học dân tộc Bình Trị Thiên, LHXN Ðư­ờng sắt Bình Trị Thiên...
*
*      *
Từ chuyện phát hiện thêm những điều còn ít được biết đến về nhóm lăng mộ cổ thời chúa Nguyễn ở Trầm Sơn (Hải Sơn, Hải Lăng) đến việc tìm hiểu truyền thống khoa bảng, nghiệp quan của một dòng họ đã mang lại những nhận thức mới và đầy đủ hơn về những vấn đề liên quan đến lịch sử, văn hoá của một vùng đất phía nam Quảng Trị, bên dòng sông Ô Lâu. Các giá trị tiềm ẩn trong khu lăng mộ đã không chỉ cung cấp nhiều thông tin bổ ích về qui cách, kỹ thuật, nghệ thuật xây dựng lăng mộ đương thời mà còn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử của công cuộc mở mang vùng đất phía tây Hải Lăng từ những thế kỷ XVII - XVIII. Bên cạnh đó, những giá trị truyền thống quý báu của một dòng họ danh tiếng với những nhân vật lịch sử từng có những vai trò khá quan trọng dưới thời phong kiến trải nhiều thời kỳ đã được liên tục lưu giữ, kế thừa qua từng thế hệ không chỉ là những t­ư liệu bổ ích, giúp cho việc tìm hiểu một cách đầy đủ hơn về nét đẹp của con người Quảng Trị mà còn góp phần tăng thêm niềm tự hào về truyền thống quê hương. Từ đó đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.
Vùng đất Quảng Trị là nơi đã từng bị bao cuộc chiến tranh khốc liệt tàn phá; các giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể từng bị mất mát, hư hại khá nhiều. Vì vậy, sự tồn tại một cách khá nguyên vẹn cho đến tận ngày nay của những di tích như­ khu lăng mộ cổ ở Trầm Sơn, nhà thờ họ Nguyễn Ðức cùng nhiều di vật lịch sử, văn hoá khác thuộc dòng họ Nguyễn Ðức ở làng An Thơ, xã Hải Hoà xứng đáng được coi là những di sản văn hoá cần được trân trọng, giữ gìn và phát huy./.


------------------
Chú thích:
(1) Dẫn theo: Gia phả của họ Nguyễn Ðức ở làng An Thơ, xã Hải Hòa, huyện Hải Lăng - Bản chữ Hán lập năm Cảnh Hư­ng thứ hai (1741), hiện đang được l­ưu giữ tại nhà thờ họ Nguyễn Ðức.    
(2) Xem thêm: Nguyễn Hữu Thông. Nhóm lăng mộ thời các chúa Nguyễn mới phát hiện ở Quảng Trị. X­ưa và nay, số 100 tháng 9/2001, trang 21.
(3) Theo: Những bài thơ cổ ở nhà thờ họ Nguyễn Ðức. Hoàng Hồng Cẩm dịch. Tài liệu đánh máy vi tính. 2003. Bản lưu tại nhà thờ họ Nguyễn Ðức.
(4) Theo Ðại Nam thực lục tiền biên (tr. 47) thì vào năm 1614, bắt đầu đặt Tam ty (Bộ máy hành chính của một địa phương tương đương cấp tỉnh) gồm Ty Xá sai, Ty T­ướng thần lại và Ty Lệnh Sử.
(5), (6). Theo Gia phả họ Nguyễn Ðức. Tài liệu đã dẫn.
(7). Theo: Gia phả họ Nguyễn Ðức. Bản soạn năm Thành Thái thứ 12. 1900. Hiện lưu giữ ở nhà thờ họ Nguyễn Ðức.
(8), (9). Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế. Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn. Nxb Thuận Hóa, 2000.
(10) Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam liệt truyện (Nhị tập, Quyển 8). Nxb Thuận Hóa,  1997, tr. 163.
(11). Theo: Gia phả họ Nguyễn Ðức. Bản soạn năm Thành Thái thứ 12. Tài liệu đã dẫn.


Saturday, July 18, 2015

Ngựa Trời Xin Vôi - Hoàng Công Danh

Ngựa Trời Xin Vôi

HOÀNG CÔNG DANH


Ngày nhỏ, thi thoảng có một con bọ cánh màu xanh, hình dạng như con châu chấu nhưng to hơn, đậu xuống bên vách nhà. Mạ quệt một cục vôi nhỏ lên trên đầu thì nó mới chịu bay đi. Vì thế con đó gọi là con xin vôi, hay còn gọi là con ngựa trời.
Mạ nói con ngựa trời được ông trời sai xuống trần gian xin vôi về quét lại thiên đình. Bởi vậy nên hễ hôm nào thấy nó thì y chang sáng hôm sau màn trời ngợp một màu trắng thanh khiết.

Mà Ngon Con Dế Sau Biền… - Lê Đức Dục

Mà Ngon Con Dế Sau Biền… - Lê Đức Dục

   Tuổi thơ của những đứa trẻ nhà quê có thể chưa cầm tới kiệt tác “Dế mèn phiêu lưu ký” của ông nhà văn Tô Hoài  nhưng chắc không có đứa nào không từng gắn bó với những trò chơi gắn bó với chú dế trên đồng bãi quê nhà. Những chú dế để chọi (có vùng  gọi là con …tiên tiến) là trò chơi vui nhộn bao nhiêu thì những con dế

Ký Ức Về Quê Hương - Phần 3 - Chế Cẩm Đình

Ký Ưc Về Quê Hương
                                Bài của Chế Cẩm Đình

Kỳ 3

Chợ Đông Hà, trên bến dưới thuyền, tấp nập. Đò lên từ Cửa Việt, Mai Xá, đò về từ Cam Lộ, Phường 4, ken kín một đoạn. Những ai sống gần sông, thì đều dùng tiếng đò máy để xác định mốc thời gian, ví dụ như đò chạy ngược lên chuyến nhất là mười, chuyến thứ hai mười rưỡi, cứ nghe bạch bạch tiếng máy đò, canh

Ký Ức Về Quê Hương - Phần 2 - Chế Cẩm Đình

Ký Ức Về Quê Hương
         Bài của Chế Cẩm Đình

Kỳ 2

Một huyện bị rứt ra trong hiệp định Genève, Vĩnh Linh, ngay bên dòng Bến Hải. Truông nhà Hồ năm xưa ghi dấu vua Quý Li vào phá thảo khấu Tam Giang, nay là thị trấn huyện lỵ Hồ Xá khá sầm uất. Đặc trưng của thị trấn này là những ngôi nhà hai tầng mái tháp đỏ, “mô đen” nhà một thời được ưa chuộng. Còn đó bệnh viện A

Ký Ức Về Quê Hương - Phần 1 - Chế Cẩm Đình

Ký Ức Về Quê Hương
                                  Bài của Chế Cẩm Đình

Kỳ 1

         Việt Thành, một người con Quảng Trị, đang ngự chốn Sài thành đô hội, vẫn đau đáu niềm nhớ quê hương bằng cái dự định lớn lao là xuất bản một cuốn sách về đất mình, thật khâm phục em. Nhìn lại, mới đó cũng đã gần 9 năm xa xứ tha phương cầu thực. Đưa con trai đầu lòng ra đi lúc con mới 8 tháng, rồi sinh con gái thứ